Quảng Ninh đang bước vào giai đoạn phát triển mới với Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Quy hoạch này định hướng xây dựng Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị biển – di sản – cửa ngõ kết nối quốc tế theo mô hình chuỗi đô thị đa cực, đa trung tâm, tích hợp hài hòa giữa biển, đảo, biên giới, di sản và đô thị.
Vị trí địa lý và lợi thế chiến lược của Quảng Ninh
Quảng Ninh là tỉnh ven biển nằm ở phía Đông Bắc Bộ, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 150 km về phía Đông. Lãnh thổ tỉnh trải theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh giáp:
- Phía Bắc: Giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).
- Phía Tây và Tây Nam: Giáp thành phố Hải Phòng.
- Phía Tây và Tây Bắc: Giáp Lạng Sơn và Bắc Ninh.
- Phía Đông: Giáp Vịnh Bắc Bộ.
Tỉnh có diện tích tự nhiên khoảng 6.207,93 km² (xếp thứ 26 cả nước), trong đó đất liền khoảng 6.206,9 km² và diện tích mặt biển lớn. Tổng diện tích lãnh thổ (bao gồm biển) vượt trên 12.000 km². Khoảng 80% diện tích là đồi núi, với chiều rộng Đông – Tây 195 km và Bắc – Nam 102 km.
Tỉnh hiện có 54 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 22 xã, 30 phường và 2 đặc khu (Vân Đồn, Cô Tô). Với đường bờ biển dài, hệ thống cảng nước sâu và vị trí chiến lược, Quảng Ninh là đầu mối giao thông quan trọng, kết nối liên quốc gia, liên vùng và liên tỉnh, đặc biệt trên hành lang kinh tế Côn Minh (Trung Quốc) – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.
Căn cứ xác định các khu vực động lực phát triển
Theo Quy hoạch tổng thể quốc gia và Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh nằm trong các vùng động lực quan trọng:
- Vùng động lực phía Bắc.
- Hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.
- Hành lang ven biển Bắc – Nam (Đồng bằng sông Hồng).
- Tiểu vùng Bắc Đồng bằng sông Hồng (vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ).
- Đô thị động lực của tiểu vùng Duyên hải Bắc Bộ (cùng Hải Phòng).
Quy hoạch nhấn mạnh vai trò của Quảng Ninh trong phát triển công nghiệp, cảng biển, logistics, du lịch, dịch vụ tầm khu vực và quốc tế, đồng thời kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế – xã hội với quốc phòng – an ninh.
Mô hình cấu trúc không gian phát triển
Quy hoạch định hình không gian theo mô hình “3 hành lang – 4 vùng – 5 trung tâm động lực”, hướng tới đô thị biển – di sản – cửa ngõ quốc tế.
Ba hành lang kinh tế chính
- Hành lang đô thị ven biển: Tập trung chuỗi đô thị – công nghiệp – dịch vụ, khu kinh tế ven biển, hạ tầng giao thông đa phương thức (đường sắt, cao tốc, cảng biển, logistics), đô thị lấn biển, nuôi trồng thủy sản và khai thác mỏ.
- Hành lang biển đảo: Phát triển du lịch biển (nghỉ dưỡng, tâm linh, sinh thái, kinh tế đêm), di sản Vịnh Hạ Long, bảo tồn biển, nuôi biển công nghệ cao, năng lượng gió ngoài khơi và hành lang hàng hải quốc tế.
- Hành lang sinh thái đồi núi: Bảo tồn cảnh quan rừng, sản xuất nông lâm nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, đô thị nhỏ và dân cư nông thôn, khu kinh tế cửa khẩu Hoành Mô – Bắc Phong Sinh.
Hai hành lang bổ sung:
- Hành lang kinh tế dọc sông Bạch Đằng: Trung tâm công nghiệp công nghệ cao, logistics quốc tế, cảng biển tổng hợp (KCN Bắc Tiền Phong, Nam Tiền Phong, Bạch Đằng…).
- Hành lang biên giới Việt – Trung: Tập trung thương mại cửa khẩu, logistics xuyên biên giới, du lịch biên giới, công nghiệp chế biến tại Móng Cái, Hải Hà.
Bốn vùng phát triển
- Vùng phía Tây (Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên, Đông Triều, Uông Bí): Tập trung cảng biển sông Bạch Đằng, công nghiệp đô thị, khoa học công nghệ, du lịch nghỉ dưỡng Hạ Long Xanh, bảo tồn di sản Yên Tử và hệ sinh thái Vịnh Hạ Long – Cát Bà.
- Vùng phía Đông (Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên): Hợp tác biên giới, thương mại tự do, logistics ASEAN – Trung Quốc, công nghiệp chế biến, du lịch Trà Cổ.
- Vùng biển, đảo (Vân Đồn, Cô Tô, Vịnh Hạ Long): Du lịch biển cao cấp, bảo tồn đa dạng sinh học, năng lượng tái tạo, nuôi trồng biển công nghệ cao.
- Vùng đồi núi phía Bắc (Hoành Bồ, Ba Chẽ, Bình Liêu…): Bảo tồn rừng, nông lâm nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, đô thị nhỏ và khu kinh tế cửa khẩu.
Năm trung tâm động lực
- Đô thị trung tâm Hạ Long: Trung tâm dịch vụ du lịch quốc tế, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, với các phân khu Bắc Cửa Lục, Tuần Châu – Bãi Cháy, Hòn Gai, Việt Hưng – Cái Lân, Hạ Long Xanh.
- Đặc khu Vân Đồn: Mô hình đặc khu kinh tế thế hệ mới, sandbox thử nghiệm chính sách, trung tâm kinh tế biển, du lịch cao cấp, thương mại tự do và logistics.
- Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái: Cửa ngõ thương mại biên giới, logistics thông minh, du lịch Trà Cổ, công nghiệp cảng biển Hải Hà – Vạn Ninh.
- Khu kinh tế biển Quảng Yên: Không gian sản xuất – dịch vụ kinh tế biển, cảng biển, công nghệ cao gắn với Hải Phòng.
- Di sản Yên Tử: Trung tâm du lịch văn hóa – tâm linh, bảo tồn và phát huy giá trị di sản Vịnh Hạ Long, Yên Tử, Bạch Đằng, nhà Trần.
Các khu vực bảo tồn và hạn chế phát triển
Quy hoạch xác định rõ các khu vực cần bảo tồn nghiêm ngặt để bảo vệ đa dạng sinh học và di sản:
- Vùng bảo vệ nghiêm ngặt: Vịnh Hạ Long (lõi), Vườn quốc gia Bái Tử Long, Rừng quốc gia Yên Tử, các khu bảo tồn biển Cô Tô – Đảo Trần, Đồng Sơn – Kỳ Thượng…, hồ nước mặt và sông dùng cho sinh hoạt.
- Vùng hạn chế phát thải: Vùng đệm di sản, đất ngập nước, hành lang đa dạng sinh học, khu dân cư đô thị loại IV-V.
- Rừng đặc dụng: Khoảng 145 nghìn ha trong vùng Đồng bằng sông Hồng được bảo tồn nguyên trạng.
Tỉnh ưu tiên không mở rộng đất sản xuất ở vành đai ven biển và hạn chế canh tác trên đồi núi cao để dành không gian cho rừng và bảo vệ môi trường.
Nội Dung Đề Xuất
Tầm nhìn đến năm 2050
Đến năm 2050, Quảng Ninh hướng tới trở thành thành phố trực thuộc Trung ương hiện đại, sinh thái, văn minh. Không gian phát triển tích hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường và củng cố quốc phòng – an ninh.
Các động lực tăng trưởng (đặc khu, khu kinh tế, hành lang kinh tế) sẽ lan tỏa mạnh mẽ, đưa Quảng Ninh trở thành cực tăng trưởng quan trọng của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước.
Quy hoạch nhấn mạnh chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế biển bền vững, du lịch chất lượng cao và hợp tác quốc tế sâu rộng.







