Dựa trên Quyết định số 891/QĐ-TTg ngày 22 tháng 8 năm 2024 phê duyệt Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, nội dung tại mục “3. Định hướng phát triển hệ thống đô thị, nông thôn” được quy định chi tiết như sau:
Các chỉ tiêu phát triển đến năm 2030
Hệ thống đô thị:
Tỷ lệ đô thị hóa: Đạt trên 50% vào năm 2030 và đạt 70% vào năm 2050.
Nội Dung Đề Xuất
Số lượng đô thị: Toàn quốc có khoảng 1.000 – 1.200 đô thị.
Kinh tế đô thị: Đóng góp khoảng 85% vào GDP cả nước.
Chất lượng sống: Hình thành các trung tâm đô thị cấp quốc gia/vùng với các chỉ tiêu y tế, giáo dục, văn hóa tương đương mức bình quân nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN.
Hạ tầng và môi trường: 100% dân cư đô thị được cấp nước sạch; tỷ lệ nước thải sinh hoạt được xử lý tại đô thị loại II trở lên đạt 40 – 45%6. Diện tích cây xanh bình quân đạt 8 – 10 m2/người.
Hệ thống nông thôn:
Ít nhất 90% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (50% đạt chuẩn nâng cao).
Khoảng 70% đơn vị hành chính cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới.
Phấn đấu 100% huyện có đô thị.
Định hướng phát triển chung
Mô hình phát triển: Phát triển hệ thống đô thị bền vững theo mạng lưới, phân bố hợp lý và đồng bộ giữa các vùng12. Chú trọng các mô hình đô thị đặc thù như đô thị di sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu, biển đảo.
Đô thị động lực: Phát triển Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các thành phố trực thuộc trung ương trở thành các đô thị năng động, sáng tạo, dẫn dắt và lan tỏa liên kết vùng.
Liên kết đô thị – nông thôn: Xây dựng nông thôn hiện đại gắn với quá trình đô thị hóa; phát triển kinh tế nông thôn xanh, đa dạng và hiện đại hóa hạ tầng tiệm cận chất lượng đô thị.
Định hướng tổ chức không gian hệ thống đô thị
Hệ thống đô thị được tổ chức theo mô hình mạng lưới, kết nối chuỗi, dải và chùm đô thị. Cụ thể gồm 04 vùng đô thị lớn:
Vùng đô thị Hà Nội: Gồm Hà Nội và 11 tỉnh lân cận. Hà Nội là cực tăng trưởng quốc gia, các đô thị như Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh… chia sẻ chức năng và hạn chế sự tập trung quá mức vào trung tâm.
Vùng đô thị TP. Hồ Chí Minh: Gồm TP.HCM và 7 tỉnh lân cận (Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu…). Tập trung phát triển thành phố sân bay Long Thành và các vành đai công nghiệp – đô thị – dịch vụ.
Vùng đô thị Đà Nẵng: Gồm Đà Nẵng, Huế và các đô thị lân cận thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Trọng tâm là khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch và kinh tế biển.
Vùng đô thị Cần Thơ: Gồm Cần Thơ và các đô thị lân cận (An Giang, Kiên Giang…). Cần Thơ là cực tăng trưởng động lực cho vùng ĐBSCL, phát triển nông nghiệp công nghệ cao và logistics.
Định hướng phát triển các đô thị trung tâm quốc gia
Hà Nội: Thành phố “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại”, trung tâm đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và giao dịch quốc tế.
TP. Hồ Chí Minh: Thành phố toàn cầu, hiện đại, trung tâm tài chính, dịch vụ của châu Á, đi đầu về công nghiệp công nghệ cao.
Hải Phòng: Trọng điểm dịch vụ logistics và kinh tế biển, dẫn đầu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đà Nẵng: Đô thị biển quốc tế, hạt nhân của chuỗi đô thị miền Trung, trung tâm sự kiện tầm khu vực và quốc tế.
Cần Thơ: Đô thị hạt nhân vùng ĐBSCL, sinh thái, văn minh, mang đậm bản sắc văn hóa sông nước.
Thừa Thiên Huế: Đô thị văn hóa di sản quốc gia với đặc trưng di sản, sinh thái, thông minh và hướng biển.
Định hướng quy hoạch hệ thống nông thôn
Xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.
Phân bố dân cư nông thôn phù hợp với đặc trưng vùng miền; chủ động di dời dân cư khỏi vùng nguy cơ thiên tai.
Thúc đẩy đô thị hóa tại chỗ bằng cách nâng cấp các xã đủ điều kiện lên đô thị; đảm bảo mỗi huyện có tối thiểu 01 đô thị trung tâm huyện lỵ.
Hình thành các vành đai xanh, hành lang xanh để kiểm soát đô thị hóa tự phát và bảo vệ vùng sản xuất nông nghiệp.












